About—Tiếng Việt

Home About—Tiếng Việt

Viện Phật Học Heruka

Chuyên về nâng cao thuộc Kim Cang Thừa Phật Giáo
và xúc tiến một xã hội thánh thiện hơn và từ bi hơn.
Tổ chức của chúng tôi

Viện Heruka được hình thành bởi nhóm các học trò của Đức Tulku Yeshi Rinpoche xuyên qua những cảm hứng từ giáo pháp của ngài và nương vào sự hướng dẫn tâm linh cũng như sự uyên bác của ngài.

Viện Heruka được tổ chức dành riêng cho các mục đích tôn giáo, từ thiện, khoa học, văn chương, và giáo dục nằm trong điều luật thuộc nghị định 501 (c)(3) mã thuế vụ nội bộ ban hành năm 1986.

Các mục đích của chúng tôi
  • Nâng cao về Kim Cang Thừa Phật giáo
  • Xúc tiến một xã hội phồn thịnh bởi tăng trưởng lòng từ bi và tri tuệ
  • Nâng cao về giáo dục hay khoa học trong lĩnh vực Phật giáo.

TULKU YESHI RINPOCHE

tulku-yeshi-rinpoche-4
Tulku Yeshi Rinpoche là một Đạo Sư Đại Viên Mãn và là hoá thân của Đức Dzogchen Gyaltsab Thodo Rinpoche.
Ngài đã thọ nhận những giáo pháp trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng và truyền thống Y học Tây Tạng từ bốn mươi lăm vị Đại Sư đại diện cho tất cả năm trường phái của Phật giáo Tây Tạng.
Tulku Yeshi Rinpoche là một Lạt ma cao cấp với một dòng truyền thừa đại lực và chân truyền.
Ngài đã ban tặng những lễ quán đảnh và giáo lý một cách rộng rãi xuyên suốt lục địa Bắc Mỹ cũng như các nơi khác trên thế giới.

Tiểu sử

Tulku Yeshi Rinpoche được xác nhận là vị hoá thân của cố Đại sư Dzogchen Gyaltsap Thodo Rinpoche bởi Đức Pháp Vương Kyabje Trulsig Rinpoche.

Vào mùa hè năm 2015, một vị Khai mật tạng nổi tiếng tại miền Kham xứ Tây Tạng là Terchen Sangngag Lingpa đã xác nhận Ngài là vị chưởng quản bảo tạng của kho tàng giáo pháp của vị Khai mật tạng này hay ngài còn được gọi với danh hiệu Choe- Dag.

Rinpoche đã viết 14 cuốn sách bằng tiếng Tây Tạng, trong đó 10 cuốn đã được xuất bản với các tiêu đề Phật giáo Tây tạng, thiền định, chữa bệnh và thơ ca.

Ngài đã xuất bản ba cuốn sách bằng Anh ngữ là:

  • “A Modern Liberation Odyssey—An Autobiography of a Tibetan Nomad Lama”
  • “Handbook for Half-Buddhas”
  • “Tibetan Zen”

Rinpoche đã thâu năm đĩa CD bao gồm Pháp Chod của Phật giáo Tây tạng.

Ngài cũng viết những pháp luyện tâm trong dạng tiểu thuyết và thơ ca và làm thế nào để vui hưởng cuộc sống.

Trong nhiều năm ngài đã phụng sự chúng sinh bằng tất cả trái tim ngài trong nhiều cách khác nhau, bao gồm:

  • Lễ quy y
  • Lễ truyền giới Bồ Tát
  • Các lễ nhập môn và quán đảnh của Mật thừa
  • Lễ trao truyền nghi quỹ sadhana
  • Lễ ban phước cho tư gia
  • Đạo sư hướng dẫn tâm linh
  • Lễ ban phước cho trẻ sơ sinh
  • Làm pháp tiên tri (Pháp Mo dùng tiên tri trong truyền thống Tây tạng)
  • Làm pháp chiêm tinh trong truyền thống Tây tạng
  • Cử hành các lễ cúng puja cho người bệnh, hấp hối hay người đã mất.
  • Cử hành các lễ cúng puja giúp tăng trưởng cho các doanh nghiệp.
  • Các buổi thuyết pháp công chúng về các đề tài thuộc Kim Cang Thừa Phật Giáo.
  • Các buổi thuyết pháp công chúng về lòng từ bi, sự tử tế và lòng khoan dung nhằm mang lại lợi lạc vĩ đại hơn cho cộng đồng.

Dòng Truyền Thừa

Dòng Nyingma

Tulku Yeshi Rinpoche đã thọ nhận nhiều giáo pháp từ các Đạo Sư dòng Nyingma chủ yếu là từ Thánh Trulsik Rinpoche, Thánh Trulsik Rinpoche thọ nhận từ Tổ Dudjom Rinpoche và Đức Dilgo Khyentse Rinpoche từ một dòng truyền thừa không đứt đoạn lên đến Đức Liên Hoa Sanh (Padmasambhava) thế kỷ thứ tám, Đức Liên Hoa Sanh đã thọ nhận các giáo lý này từ một dòng các Đạo Sư thuộc cõi người bắt đầu từ Vua Za ở Ấn Độ, Vua Za đã thọ nhận các giáo lý này từ Bồ Tát Kim Cang Thủ (Vajrapani), Bồ Tát Kim Cang Thủ đã thọ nhận từ Kim Cang Tát Đoả Phật, Kim Cang Tát Đoả Phật đã thọ nhận từ Phổ Hiền Phật hay là Kim Cang Trì Phật. Tulku Yeshi Rinpoche cũng học từ nhiều vị thầy Nyingma khác bao gồm Tổ Dodrupchen Rinpoche và nhiều vị Đạo Sư trẻ.

Dòng Kagyu

Trong trường phái Kagyu, Đức Tulku Yeshi Rinpoche đã thọ nhận giáo pháp từ nhiều vị Đạo Sư, bao gồm Đức Pháp Vương Karmapa thứ 17, Đức Pháp Vương Karmapa thứ 17 đã thọ nhận các giáo pháp từ Đức H.E Tagu Rinpoche, Đức H.E Tagu Rinpoche đã thọ nhận từ Đức Pháp Vương Karmapa thứ 16 từ một dòng truyền thừa không đứt đoạn lên đến Tổ Gampopa, Milarepa và Marpa. Tổ Marpa đã thọ nhận các giáo pháp từ Đạo Sư vĩ đại người Ấn Độ là Đức Đại Thành Tựu giả Naropa. Tổ Naropa đã thọ nhận từ Tổ Tilopa. Tổ Tilopa đã thọ nhận hầu hết tất cả giáo pháp của ngài từ Phật Kim Cang Trì. Và cũng trong dòng Drikung Kagyu, Đức Tulku Yeshi Rinpoche cũng thọ nhận các giáo pháp từ Đức Ayang Rinpoche và Garchen Rinpoche.

Dòng Gelug

Trong trường phái Gelug, Tulku Yeshi đã thọ nhận giáo pháp từ một vị Đạo sư Gelugpa là H.H Lamo Yongzin Rinpoche, H.H Gaden Tripa Lobsang Nyima, Drepung Tipa Tenba Tendzin, Lama Zopa Rinpoche, và nhiều vị Geshe khác.

Dòng Sakya

Trong dòng phái Sakya, Đức Tulku Yeshi đã thọ nhận giáo pháp từ Đức Pháp Vương Sakya Trizin và Pháp Vương Jigdal Dagchen Rinpoche, các ngài đã thọ nhận các giáo pháp từ thân phụ của các ngài là Đức Pháp Vương Trichen Ngawang Thutob Wangchuk và Pháp Vương Dzongsar Jamyang Chokyi Lodro, cả hai vị Pháp Vương này cũng thọ nhận giáo pháp từ một dòng truyền thừa không đứt đoạn lên đến Năm Vị Lama Tổ Sư Khai Sáng dòng phái của dòng truyền thừa Sakya, Năm Vị Tổ sư này cũng thọ nhận giáo pháp truyền thừa bắt nguồn từ Đức Liên Hoa Sanh (Padmasambhava) và Tổ Virupa. Các giáo pháp của Đức Liên Hoa Sanh và Tổ Virupa đều đến từ Kim Cang Trì Phật và Phật mẫu Nairatmya.

Chod

Trong trường phái Chod, ngài đã thọ nhận các giáo lý từ Dhetheng Sungdung Rinpoche, là vị đã thọ nhận giáo lý từ Lako Rinpoche, Lako Rinpoche đã thọ nhận giáo pháp từ một dòng truyền thừa không đứt đoạn quay trở về đến Phật mẫu Machik Labdron. Tulku Yeshi đã thọ nhận dòng truyền thừa pháp Chod thứ nhì từ Thánh Trulsik Rinpoche, Thánh Trulsik Rinpoche đã thọ nhận pháp này từ Tổ Dudjom Rinpoche, Tổ Dudjom Rinpoche đã thọ nhận từ một dòng truyền thừa không đứt đoạn quay trở về đến Đức Liên Hoa Sanh (Padmasambhava). Ngài cũng đã thọ nhận một dòng truyền thừa Chod thứ ba từ Lama Wangdu Rinpoche, Lama Wangdu Rinpoche đã thọ nhận giáo lý từ vị Đạo sư của ngài là Nubra Rinpoche, Đức Nubra Rinpoche đã thọ nhận giáo pháp từ một dòng truyền thừa không đứt đoạn quay về đến Phật mẫu Machik Labdron và Padampa Sangye.

Tibetan Shamanism

Tulku Yeshi Rinpoche cũng đã nghiên cứu trong trường phái Tibetan Shamanism, sự chữa lành của chính nó và những pháp tiên tri từ một số vị thầy, đặc biệt là những vị trong truyền thống Vua Gesar, một trong những Bổn tôn bảo hộ thần lực nhất của Tây Tạng.

Các Đạo Sư Gốc

Một trong những vị Đạo sư gốc của Đức Tulku Yeshi trong trường phái Gelug là Đức Lamo Yongzin Rinpoche.

Tulku Yeshi đã bắt đầu thọ nhận giáo pháp từ thời thơ ấu khi ngài còn là một cậu bé. Một thời gian dài trước khi ngài trở thành một nhà sư, Đức Tulku Yeshi đã được Thánh Lamo Yongzin Rinpoche thu nhận và che chở dưới đôi cánh của vị ngài và Đức Tulku Yeshi đã được Thánh Lamo Yongzin Rinpoche dạy tất cả các môn học truyền thống, bao gồm chữ cái tiếng Tây tạng và làm thế nào để quán tưởng các Bổn tôn Mật thừa. Ngài đã ban cho Đức Tulku Yeshi ba bộ giới nguyện thuộc hệ thống Nguyên thuỷ Phật giáo, Đại thừa Phật giáo và Kim Cang thừa Phật giáo.

Thánh Lamo Yongzin Rinpoche đản sinh vào năm Mậu Thân 1908 tại hướng Bắc của Hồ Kokonor thuộc miền Amdo Tây tạng.

Tại tu viện Labring Tashikyi Ngài đã nghiên cứu môn triết học Phật giáo và đã thọ nhận nhiều các lễ quán đảnh từ Lako Rinpoche, Geshi Jigme, Geshi Thabkey và các vị Đạo sư khác.

Ngài đã sáng lập một tu viện riêng của chính ngài là Trumden Ling vào năm 1935 tại hướng Nam của hồ Kokonor. Trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hoá, chính quyền Cộng sản Trung Quốc đã đưa ngài vào nhà tù chính trị cũng như đưa ngài vào những “trại cải tạo” khác nhau.

Vào năm 1990, ngài đã khôi phục lại tu viện của ngài và ban tặng giáo lý xuyên suốt miền Đông Bắc của Tây tạng.

Ngài đã ban tặng các lễ nhập môn, lễ quán đảnh, và giáo lý nhiều hơn bất kỳ vị Đạo Sư Gelug nào khác tại Tây tạng. Mỗi lần Ngài cử hành lễ quán đảnh Kalachakra thì ít nhất là 50.000 người tham dự, và có những lúc số đông người tham dự lên đến 200.000 người.

Vào những năm sau này Lamo Yongzin Rinpoche đã xây thêm vài tu viện nữa và đã biều lộ nhiều dấu hiệu siddhi thành tựu phi thường. Ví dụ như cầu vồng thường xuất hiện trên bầu trời khi ngài ban giáo lý, và một lần nọ, trong khi ban quán đảnh Kim Cang Du Già Phật mẫu Vẩyogini ở trong một hang động của một vị nữ thần núi, thì nước cam lồ trong cốc kapala của ngài trở nên sôi sùng sục một cách tự nhiên.

Ngài đã nhập Niết bàn vào năm 2005 ở tuổi 97, với sự tiên tri trước ngày giờ bảy tháng trước đó. Vào buổi sáng hôm đó, ngài vẫn làm những thực hành hằng ngày, ngài ăn sáng, và chỉ nói đơn giản, “Giờ là lúc ta ra đi”. Ngài bảo thị giả ra khỏi phòng trong nữa giờ. Sau khi nữa giờ trôi qua, các nhà sư quay trở lại phòng ngài thì đã nhìn thấy ngài trong tư thế thiền định của Đức Phật được biết rằng ngài đã đi vào cõi Vô dư Niết bàn.